logo

Bệnh mạch vành

Bệnh mạch vành thường liên quan đến tình trạng tắt nghẽn trong lòng mạch vành ( nguyên nhân do mảng xơ vữa gây hẹp tắt hoặc do cục máu đông gây lấp mạch ) hoặc co thắt mạch vành. Bệnh mạch vành có thể chỉ biểu hiện bằng cơn đau thắt ngực, có thể nặng nề và nguy hiểm hơn là nhồi máu cơ tim.
Trái tim của chúng ta hoạt động giống như một cái bơm để bơm máu,  đưa máu tới khắp các mô cơ quan trong cơ thể. Để đảm bảo được chức năng bơm máu một cách đều đặn khoảng 70-80 lần phút, từ ngày này sang ngày khác này, bản thân trái tim cũng phải được nuôi dưỡng bởi một hệ thống mạch máu riêng. Hệ thống mạch máu này được gọi là hệ mạch vành.

Bệnh mạch vành

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH MẠCH VÀNH:

Tăng huyết áp là nguy cơchính gây bệnh. Nguyên nhân chủyếu gây bệnh ĐMV là xơvữa động mạch – một tiến trình chậm chạp kéo dài với sựlắng đọng từtừcủa các mảng bám vào mặt trong thành động mạch, làm cho thành động mạch ngày càng dày lên, cứng lại và mất tính đàn hồi.

Các mảng lắng đọng này có thành phần chủ yếu là mỡ, cholesterol, calcium và nhiều chất cặn khác trong máu của bạn. Khi lớn tuổi, đặc biệt nam giới trên 45 tuổi và nữ trên 55 tuổi thì nguy cơ mắc bệnh ĐMV rất cao. Nguy cơ này cũng xảy ra trong gia đình có người mắc bệnh tim sớm, cụ thể là có cha hoặc anh em trai bị bệnh tim trước 55 tuổi hay có mẹ hoặc chị em gái bị bệnh trước 65 tuổi.

Đái tháo đường, tăng mỡ máu, thừa cân hay béo phì, ít vận động, thuốc lá, rượu bia cũng chính là những nguy cơ gây bệnh. Lúc đó các động mạch đến nuôi cơ tim bị cứng và hẹp do các mảng xơ vữa tại thành mạch làm giảm lượng oxy đến nuôi cơ tim. Hậu quả là xuất hiện cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, loạn nhịp.

Một điều đáng lo ngại là bệnh ĐMV và nhồi máu cơ tim xuất hiện ngày càng nhiều ở những người dưới 50 tuổi, có cả những bệnh nhân dưới 40 tuổi. Cũng như trên thế giới, tại Việt Nam bệnh mạch vành đang trở thành mối nguy lớn cho sức khoẻ cộng đồng và là gánh nặng không chỉ cho người bệnh.  

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH MẠCH VÀNH:

Có nhiều mức độ, từ không có triệu chứng gì cho đến cơn đau thắt ngực dữ dội

Không triệu chứng :có thể người mắc bệnh mạch vành hoàn toàn không có triệu chứng gì cả, chỉ tình cờ phát hiện khi đo điện tâm đồ ( ECG ).

Cơn đau thắt ngực :Cơn đau thắt ngực điển hình kiểu mạch vành được mô tả với các đặc điểm như sau :

Tính chất đau ngực : cảm giác đau thắt, bóp nghẹt, xiết chặt, cũng có thể là cảm giác bỏng rát, kim châm.

Vị trí : đau sâu phía sau xương ức, chính giữa tim, hoặc ngực trái. Đôi khi đau ở vùng thượng vi dễ làm  lầm tưởing là đau dạ dày.

Hướng lan : Đau ngực có thể không lan, có thể lan xuyên lồng ngực ra phía sau giữa 2 xương bã vai, hoặc lan từ ngực lên hàm, lan lên vai, dọc theo mặt trong cánh tay trái tới ngón út.

Độ dài cơn đau : Có thể chỉ thoáng qua vài giây, có thể vài phút, hoặc kéo dài vài chục phút.

Hoàn cảnh khởi phát cơn đau : cơn đau xuất hiện sau gắng sức thể lực ( ví dụ như đi bộ đường dài, leo cầu thang, khiêng đồ nặng, ăn no, chơi thể thao, giao hợp … ) hoặc xúc động nhưng giảm khi nghỉ ngơi hoặc ngậm thuốc Nitroglycerin dưới lưỡi.

Tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng có đủ những triệu chứng điển hình như vậy mà rất thay đổi. Chính vì  vậy mà sẽ có các dạng biểu hiện khác nhau: Cơn đau thắt ngực im lặng, Cơn đau thắt ngực điển hình , Cơn đau thắt ngực không điển hình, và nặng nhất là nhồi máu cơ tim.

Hu quca bnh động mạch  vành:

Hẹp lòng ĐM vành sẽ gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim, tình trạng này có thể kéo dài lâu ngày. Bệnh nhân sẽ bị đau ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cấp.

Khi mảng xơ vữa trong lòng ĐM vành vỡ ra thì sẽ làm bít tắc hoàn toàn ĐMvành và gây ra thiếu máu cơ tim cấp tính, nặng nề, hoại tử cơ tim – còn được gọi là nhồi máu cơ tim cấp. Tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp rất cao. Bệnh nhân qua được cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể sẽ bị suy tim sau nhồi máu cơ tim, bị rối loạn nhịp tim sau nhồi máu cơ tim.


III. CHUẨN ĐOÁN BỆNH MẠCH VÀNH:

1.Chẩn đoán thiếu máu cơtim dựa vào việc khai thác triệu chứng đau ngực của bệnh nhân. Những dấu hiệu thểhiện tình trạng thiếu máu cơtim yên lặng là những chỉđiểm khiến cho BS đi tìm thêm vềnguyên nhân và phát hiện ra tình trạng thiếu máu cơtim.

2. Chẩn đoán dựa vào điện tâm đồ. Tình trạng thiếu máu cơ tim làm thay đổi về tính chất diện học của tim. Điện tâm đồ có thể phát hiện được những thay đổi về điện học đó. Vì vậy, điện tâm đồ là một công cụ trong chẩn đoán thiếu máu cơ tim. Cũng cần lưu ý là có những tình trạng bệnh lý khác cũng có thể cho ra những dấu hiệu điện tâm đồ giống như thiếu máu cơ tim đã cho ra.

3. Siêu âm tim. Tình trạng thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng đến sự co bóp của tim. Thiếu máu cơ tim ở vùng nào thì cơ tim ở vùng đó sẽ bị rối loạn. Siêu âm tim là một phương tiện giúp cho BS thấy được sự co bóp của cơ tim. Vì vậy, những vùng giảm động do thiếu máu cơ tim gây ra sẽ được phát hiện bởi siêu âm tim.

4. Điện tâm đồ và siêu âm tim lúc gắng sức. Với tình trạng lòng động mạch vànhchỉ hẹp ở một mức độ vừa phải thì triệu chứng thiếu máu cơ tim chỉ xảy ra khi gắng sức. Nghĩa là bệnh nhân chỉ đau ngực khi gắng sức và những thay đổi về điện tâm đồ và về siêu âm tim chỉ xuất hiện khi bệnh nhân gắng sức mà thôi. Vì vậy, có những bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim mà điện tâm đồ và siêu âm tim hoàn toàn bình thường. Trong những trường họp này, điện tâm đồ họăc siêu âm tim thực hiện lúc gắng sức sẽ giúp chẩn đoán được tình trạng thiếu máu cơ tim.     

5. Xạ hình tưới máu cơ tim. Dùng chất đồng vị phóng xạ bơm vào mạch máu. Những vùng nào của cơ tim bị thiếu máu nuôi sẽ giảm hoặc không bắt được chất đồng vị phóng xạ. Dùng máy scan để phát hiện những vùng như vậy và chẩn đoán thiếu máu cơ tim.

6. Chụp động mạch vành chọn lọc, cản quang. Phương pháp này được xemlà tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh động mạch vành. Thông qua biện pháp này BS biết được tình trạng của hệ thống động mạch vành của bệnh nhân: hẹp, tắc, tại đâu, bao nhiêu mạch máu bị tổ thương…

7. Chụp CT đa lớp cắt. Phương tiện này giúp phát hiện tình trạng vôi hoá động mạch vành chứ không giúp chẩn đoán tình trạng thiếu máu cơ tim. Hiện nay phương tiện này chưa được công nhận trong qui trình chẩn đoán thiếu máu cơ tim.

IV. ĐIỀU TRỊ BỆNH MẠCH VÀNH:

Hiện tại có 3 phương pháp điều trị bệnh động mạch vành:

Điều trị nội khoa (dùngthuốc):

1. Điều trị các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐM vành để bệnh không tiến triển nặng thêm: điều trị tăng huyết áp, điều trị rối loạn lipide máu, điều trị đái tháo đường, bỏ hút thuốc lá, giảm cân nặng đạt cân nặng lý tưởng, thay đổi lối sống…

2. Điều trị phòng ngừa nhồi máu cơ tim cấp: dùng các loại thuốc kháng kết dính tiểu cầu để phòng ngừa đông máu gây tắc mạch vành: Aspirine,Clopidogrel…

3. Điều trị chống cơn đau thắt ngực bằng các loại thuốc dãn mạch.

Điều trị canthiệp:(nong rộng lòng ĐM, đặt khung giá đỡ trong lòng ĐM vành).

1. Dùng cho các trường hợp đau ngực do thiếu máu cơ tim mà ít hoặc không đáp ứng với thuốc điều trị nội khoa.

2. Dùng cho các trường hợp bị đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim cấp.

Điều trịphẫu thuật bắc cầu động mành:

1. Dùng cho các trường hợp ĐM vành bị tổn thương nhiều chổ, tổn thương kéo dài… cho các trường hợp mà can thiệp ĐM vành không thể can thiệp được.

2. Đây là một cuộc mổ lớn, dùng các mạch máu khác của ngay chính bản thân bệnh nhân để làm cầu nối qua chỗ ĐM vành bị hẹp. 

Các bệnh trong cùng chuyên mục "Tim mạch"

Viết bình luận
Tên của bạn (*):
Mail của bạn (*):
Mã bảo mật (*):
Telex   VNI   Off
Bình luận (1)
nguyen
sao lai ko co thuoc chua vay ? bac nao biet chi cho em voi nha cam on nhieu
Ngày 23-03-2013,  5:41